I. ĐẠI CƯƠNG

1. Chondroitin sunfat là hợp chất hữu cơ thuộc nhóm mucopolysaccharid hay còn gọi nhóm proteoglycan.

là proteoglycan bởi vì chondroitin sunfat tim thầy trong thiên nhiên cấu tạo bởi chuỗi dài gồm nhiều đơn vị kết hợp đường và protein. Ở cơ thể co con người, Chondriutin sunfat có 2 loại: chondroitin sunfat được đề cập ở đây là chondroitin sunfat A có nhiều ở mô sụn, (loại thứ 2 là chondroitin sunfat B được tìm thấy nhiều ở da, gân, thành mạch máu). Để dùng làm thuốc, chondroitin sunfat được lý trích từ sụn súc vật heo bò, đặc biệt từ sụn vi cá mập (gọi tắt là sụn cá mập, tiếng Anh là Shark cartilage), hoặc được tổng hợp theo phản ứng hóa học. Thông thường người ta chuộng sử dụng chế phẩmChondroitin sunfat từ sụn cá mập tự nhiên vì là hợp chất thiên nhiên và đặc biệt, rong thời gian gần đây có giả thuyết cho rằng: “sụn cá mập có tác dụng ngừa ung thư”. theo ghi nhận cá mập là loài cá duy nhất rất hiểm bị bệnh ung thư, tần suât bị bệnh ung thư ở cá mập là một phần triệu trong khỉ các loại cá khác tần suất mắc bệnh là 3 hoặc 4 phần trăm. Người ta đang tìm cách chứng minh trong sụn cá mập mà cấu tạo chủ yếu là chondroitin sunfat có chứa chất ức chế “quá trình tạo ra tân mạch”” (angiogenesis, túc quáuá trình tạo ra mạch máu mới). Cần biết, khối u ung thư có thể kích thích tạo tân mạch nhằnằm cung cấp máu, chất bổ dưỡng rất cần cho sự phát triển tăng sinh của nó. Nếu quá trình tạo tân mạch bị ức chế, thiếu máu nuôi, tế bào ung thư sẽ không sinh sản,khôi u ung thư không phát sinh hoặc phát triển. Nhiều công trình nghiên cứu đã chứng minh Chohondroitin sunfat có tác dụng hỗ trợ điều trị các bệnh lý về xương khớp, đặc biệt là bệnh viêm xương khóp (osteo-arthritis). Cơ chế tác dụng của chondroitin sunfat trong việc làn làm giảm bệnh lý xương khớp là bảo vệ khóp (chondroprotective action) băng cách ức chế é các enzyme có vai trò phá hủy sụn và kích thích tăng hoạt các enzyme có vai trò xúc tác phản ứng tổng hợp acid hyaluronic (là chất giúp khóp hoạt động tốt). Ở một số nướcrớc tiến tiến, chodroitin sunfat được xem là chế phẩm bố sung dinh dưỡng (dietary suppoplement) nhung lại được các bác sỹ chuyên khoa phổi hợp glucosanin (cũng là hợp chấtất thiên nhiên ly trích từ vỏ tôm cua) để hỗ trợ điều trị viêm xương khớp và ghi nhận tác dụnụng hữu hiệu hỗ trợgiảm đau của nó. Có nghiên cứu cho rằng chondroitin sunfat hô trợ chônống viêm đau là do nó làm giảm tạo tân mạch. Cũng do làm giảm tạo ra các tân mạch nà chondroitin sunfat còn dùng trong nhãn khoa để điều trị thoái hóa võng mạc do bệnh đái tháo đường (bệnh do tân mạch xâm nhập vào dưới võng mạc gây tổn thương thành sẹo có thể dẫn đến mù). Theo sách “Matindale, The complete drug reference” (34t, ed, 005), chondroitin sunfat được dùng rộng rãi trong nhãn khoa nhằm tác dụng tạo độ nhớt hích hợp (visco-elactic properties) và bồi bỗ nội mô giác mạc (correal endothelium). ũng theo sách tham khảo về dược nổi tiếng này, chondroitin sunfat được dùng điều trị hỗ trợ trong phẫu thuật mắt (điều trị mô cườm, đục thủy tỉnh thể), dùng làm dung dịch ảo quản giác mạc dùng trong phẩuthuật ghép giác mạc, đặc biệt, làm thuốc nhỏ mắt để trịrị chứng khô mắt. Đó là thành phần của giác mạc, có tác dụng tái tạo lớp phim bảo vệ nắt,chondroitin sunfat được ghi nhận giúp giảm thiều sự khô mắt, mỏi mắt t, hỗ trợ điều trị một số bệnh về mắt.

2. Mô liên kếtChương 100. 101 thành phần thường dùngtrong thực phẩm chức năng

+ Mô liên kết là tập hợp những tế bào có nguồn gốc trung bì, giữ ch năng bảo vệ, nâng đỡ làm sườn cấu tạo cho cơ thể và cơ quan. Mô liên kết có nguồn gốc từ tức là từ trung mô.
+ Mô liên kết là loại mô phổ biến nhất trong các loại mô cơ bản. Mô liên kết hiện diện ở khắp các cơ quan, xen giữa các mô khác, giúp chúng gắn bó với nhau. Mỗi loại mô liên kết đều được tạo thành bởi:
(1)Thành phần gian bào gồm: phần lỏng gọi là dịch mô. Phần đặc hơn, có đặcác tính của hệ keo gọi là chất căn bản.
(2)Các sợi liên kết vùi trong chất căn bản.
(3) Các tế bào liên kết nằm rải rác trong thành phần gian bào.
+Căn cứ vào tính chất của chất căn bản, người ta chia mô liên kết ra làm 3 loại:
(4) Mô liên kết chính thức, có độ mềm và có mặt ở mọi nơi trong cơ thể.
(5) Mô sụn, chất căn bản nhiễm cartilagein (chất sụn), có độ rắn vừa phải.
(6) Mô xương, chất căn bản nhiễm ossein và muối calci vì vậy có độ rắn lớn.
+ Mộ liên kết chính thức gồm các loại tế bào liên kết và những sợi ngoài tế bào, vùi trong chất căn bản vô hình. Số lượng từng loại tế bào, từng loại sợi và chất căn bản liên kết thay đổi rất nhiều, tùy thuộc vào cấu trúc từng vùng. Những tế bào của mô liên kết chính thức có thể xếp thành hai nhóm: nhóm tế bào cố định và nhóm tế bào di động. Các tế bào này nằm xa nhau, xen vào giữa chúng là khoảng gian bào rất rộng, trong chứa chất gian bào.
– Mô liên kết chính thức có ba loại sợi: sợi collagen (sợi xơ, sợi tạo keo), sợi chun, sợi võng.
– Mô liên kết chính thức đảm nhiệm chức năng chống đỡ cơ học cho mô khác; là trung gian trao đổi chất giữa máu và mô; tích lũy, dự trữ năng lượng; bảo vệ cơ thế chống nhiễm khuẩn; tham gia vào sự tái tạo mô sau tổn thương.
+ Các thành phần của mô liên kết:

2.1. Chất căn bản liên kết

Dưới kính hiển vi quang học, chất căn bản liên kết không có cấu trúc. Chất căn bản mô liên kết chính thức là một chất vô định hình, đồng nhất, trong suốt, làm nền cho tế bào với các phân tử sợi, có tính nhớt với hàm lượng nước và chất điện giải tương đương với máu.
Thành phần cấu tạo chủ yếu của chất căn bản liên kết là:
(1) Những glycosaminoglycan
(2) Những glycoprotein cấu trúc
(3) Nước và những muối vô cơ tạo thành dịch mô. Về vặt lý học, chất căn bản chuyển từ trạng thái loãng (sol) thành trạng thái quánh đặc (gel) hoặc ngược lại tùy thuộc mức độ trùng hợp của chúng. Chất căn bản liên kết là môi trường bên trong cơthể, các tế bào liên kếttrực tiếp trao đổi chất với nó. Chất căn bản liên kết có nguồn gốc từ tế bào và từ máu. Khi dịch mô trong chất căn bản có nhiều hơn mức bình thường, mô liên kết ở nơi ấy rơi vào tình trạng phù nề.

2.1.1. Glycosaminoglycans (GAG)

Là những chuỗi Polysaccharide được tạo với sự đa trùng hợp của những đơn vị disaccharide gắn với acid uronic và nhóm hexosamine, những nhóm đa đường này thường gắn với protein bởi những nối đồng hóa trị (covalent) để tạo những phân tử proteoglycan, các protein hòa tan này thường là dermatan sulfate, chondroitin sulfa Ifte, keratin sulfate, heparin sulfate. Dermatan sulfate phần lón ở da, gân, dây chẳng, sụn xơ, tất cả cấu trúc tr này chứa collagene type I. Chondroitin sunlfate có nhiều ở sụn trong, sụn đàn hồi, xương, giácác mạc, da, thành động mạch chủ. Heparin sulfate có khuynh hướng kết hợp với sợi võng và Collagen type
e III. Heparan sulfate có nhiều trong thành động mạch chủ, động mạch phôi, ga lá đáy của màng đáy. Những proteoglycan này làm cho chất căn bản ở trạng thái nửa sol nửa gel.

2.1.2. Glycoprotein cấu trúc

Đây là những hợp chất hình thành do sự gắn kết giữa protein với carbonhydrat,at, trong đó tỷ lệ protein cao hơn carbonhydrat. Những glycoprotein có chức năng chính là thiết lập mối tương tác giữa các tế bào và các thành phần ngoại bào trong mô liên kết. Có những tế bào có thụ thể màng giúp chúng trực tiếp gắn với những sợi collagen ở gian bào. Có những tế bào cần những phần tử trung gian là những glycoprotein để gắn kết với collagen hoặc với glycosaminoglycan. Fibronectin: là 1 glycoprotein được tổng hợp từ nguyên bào sợi và tế bào biểu mô. Những phân tửprotein này giúp cho sự liên kết giữa tế bào, sợi collagen và các nhóm głycosamine, sự liên kết này tác động đến tính liên kết các tế bào và tính di chuyển của nó. Tế bào ung thư là những tế bào không tạo rafibnonectin phần nào giải thích tính xâm nhập và phá hủy màng đáy của chúng. huỗi Laminin: là glycoprotein, 1 đại phân tử glycoprotein chứa ít nhất 1 chu polypeptide, chúng được tìm thấy ở màng đáy giúp cho sự gắn kết của biểu mố với collagen type IVcủa màng đáy. Chondroitin có ở sụn giúp cho sự liên kết giữa tế bào sụn và collageene type II.

2.1.3. Dịch mô

Trong mô liên kết chính thức chứa một lượng không nhiều dịch mô. Dịcịch mô chứa một lượng nhỏ huyết tương có trọng lượng phân tử thấp và các ion với nồng độ tương đương huyết tương, vì vậy sự trao đổi giữa những thành phần này này và máu diễn ra nhanh chóng. Nồng độ protein trong dịch mô thấp là do tính thấm protein huyết tương của mao
mạch thấp.

2.2. Sợi liên kết

(1) Chollge

(2) Elastin

(3) Sợi võng:
– Là những sợi rất mảnh, với phương pháp nhuộm thông thường những sợi này không bắt màu, với phương pháp nhuộm ngấm bạc sợi có màu nâu hoặc đen, sợi cho phản ứng PAS dương tính, sở dĩ sợi có phản ứng với 2 loại thuốc nhuộm trên là do thành phần glycoprotein của nó. Sợi được tạo thành bởi các procollagen type III. Sợi thường ở dạng lưới làm thành khoang cho các cơ quan (lách, hạch,
mô thần kinh).

2.3. Những tế bào liên kết

Những tế bào liên kết có thể cố định hoặc di động tạo thành một hệ thống trong biều mô, giữ nhiệm vụ bảo vệ cơ thể, kiểm tra tế bào lạ (tế bào ung thư, vi khuẩn, virus), cung cấp năng lượng dự trữ, có thể cho đây là một hệ thống vừa chiến đấu vừahậu thuẫn cho cơ thể.
(1) Nguyên bào sợi
Nguyên bào sợi là tế bào phốbiến của mô liên kết, gồm 2 loại có hình nh thái khác nhau:
Tế bào sợi non: tế bào thường biến dạng với nhiều nhánh bào tương, nhân lớn, hình trứng, ít bắt màu thuốc nhuộm, sợi nhiễm sắc thể mảnh, hạt nhân lớn. Bào tương chứa lưới nội bào có hạt và bộ Golgi phát triển.
Tế bào sợi: là những tế bào nhỏ hình thoi, nhân hình gậy, sẫm màu, lưới nội bào, bộ Golgi ít phát triển.
Tế bào có nhiệm vụ tổng hợp Collagene và Glycosaminoglycan, chất căn bản.
Ở người lớn, tế bào sợi ít phân chia, hình ảnh gián phân thường được quan sát
ở mô liên kết bị tổn thương.
(2) Đại thực bào
(3) Đại thực bào được khám phá đầu tiên bởi tính thực bào của chúng, khi những thuốc nhuộm sống được đưa vào cơ thể, những tế bào này thực bào và tích lũy những sản phẩm này trong các túi có thể quan sát bằng hiển vi quang học. Đại thực bào có nguồn gốc từ tế bào gốc ở tủy xương (monocyte) nhung monocyte này di cư vào mô liên kết, ở đây chúng biệt hóa trưởng thành và được gọi là đại thực bào. Hình dạng của đại thực bào rất biến thiên, thường chúng có những nhánh bào tương trải rộng, bào tương chứa nhiều tiêu thể, bộ Golgi phát trin. Đại thực bào có đời sống khá lâu, có thể tồn tại nhiều tháng trong mô liên kết, khi bị kích thích hình dạng thường thay đổi, chúng có thể biến thành tế bào bán liên, tế bào khổng lồ đa nhân. Dưỡng bào (mast cell) Dưỡng bào (tế bào bón) thường có hình trứng hay hình cầu, đường kính từ 20-
30µm nhân nhỏ hình cầu, thường được che mờ bởi các hạt bào tương. Danh từ mast do Erhlịch đề xuất là một sai lầm, Erhlich cho rằng những hạt tế bào nón là do tế bào lấy từ gian bào. Dưới kính hiển vi điện tửcho thấy tế bào bón có ít ty thể hình cầu. Hệ thống lưới nội bào có hạt ít phát triển, nhưng bộ Golgi rất phát triển. Những hạt dị sắc có đường kính từ 0,3-0,5µm, đưới kính hiển vi điện tử những hạt hạt rnày có dạng đồng nhất ở chuột, ở người mang những vòng đồng tâm.

Thành phần chứa trong những hạt này là Histamine, Proteases trung tính, yếu tố hóa hướng bạch cầu của acide (ECFA). Ngoài ra, dưỡng bào còn tạo ra leucotrienes khi màng tế bào bị hủy (SRS.A), ít nhất có 2 loại dưỡng bào: Nhóm được gọi là dưỡng bào ở mô liên kết: Ở những tế bào này những hạt dị sắc có proteoglycan là heparin.
Nhóm được gọi là dưỡng bào niêm mạc: hạt dị sắc chứa chondroitin sulfate, dưỡng bào phân bố rộng rãi khắp cơ thể nhưng nhiều nhất ở da, ống tiêu hóa,
đường hô hâp. Vai trò của dưỡng bào được xem như 1 tế bào bán nội tiết, có nhiệm vụ điều hòa, biến dưỡng mô, huyết lưu ở mao mạch và chịu trách nhiệm trong các shock phản vệ.
(4) Tương bào (plasna cell)
(5)Tương bào ít hiện diện trong mô liên kết, có nhiều ở nơi xâm nhập của vi trùng và protein lạ (niêm mạc ruột) hoặc thương tổn viêm mãn tính. Là những tế bào hình trứng, bào tương ưa base. Hệ thống luới nội bào có hạt rất phát triển. Bộ máyGolgi và trung thể chiếm 1 vùng khá lớn tạo thành 1 hình ảnh nhạt trong bào tương. Nhân hình cầu với các loại hạt nhiễm sắc phân phối đều cho hình ảnh “mặt đồng hồ”. Tương bào có nhiệm vụ tạo ra kháng thể thể dịch cho cơthể.
(6)Bạch cầu
Bạch cầu là những tế bào có nguồn gốc từ tủy xương. Chúng thường ở trong hệ tuần hoàn, nhưng thường xuyên xuyên mạch để vào mô liên kết, nhất là trong những trường hợp viêm nhiếm. Dựa vào các hạt trong bào tương, người ta thường chia bạch cầu ra làm: bạch cầu hạt và bạch câukhông hạt.

Bạch cầu hạt:
Bạch cầu ưa acide: chứa những hạt acide trong bào tương. Kính hiển vi điện tử cho thấy hạt có màng sinh học cơ bản bao bọc. Những hạt này chứa nhiều Aryl sulfatase, histamine. Bạch cầu ưa acide giữ nhiệm vụ thực bào phức hợp kháng nguyên kháng thể và đóng vai trò hồi dưỡng âm trong phản ứng dị ứng.
Bạch cầu ưa base: bạch cầu này chứa những hạt có thành phần giống những hạt trong bào tương, dưỡng bào. Nó là nguồn cung cấp Histamine chính cho máu. Những tế bào này chịu phần nào trách nhiệm phản ứng dị ứng.
Bạch cầu không hạt.
Tế bào mỡ
Tế bào mỡthường có hình cầu, các tế bào hợp nhau thành từng đám tạo nên tiểu thùy mỡ. Người ta thường phân biệt tế bào mỡ vàng (mộtkhông bào) và mở nâu (nhiều không bào):
Ở tế bào mỡ vàng: các hạt lipid sau khi được tổng hợp được tích lũy trong các hạt mỡ, càng ngày các hạt này càng lớn và có khuynh hướng sáp nhập lại thành 1 khối lớn đẩy nhân nằm sát bào tương.

Ở các tế bào mỡ nâu: các hạt mỡ nằnằm riêng g rẽr ở giữa 1 hệ thống ty hể rất phát triển. Nhân nằm ở giữa, tế bào mỡ nâu có nhiềuu ở trẻ sơ sinh, plphân bố ở một số vùng nhất định ở cơ thể trưởng thành.
Tế bào mỡ là nguồn dự trữ năng lượng lớn nhất của cơ thể, tế bào mỡ thườrờng là những tế bào rất hoạt động. Lượng mỡ trong tế bào luôn luôn được đổi mới. Quá trình biến dưỡng mỡ chịu sự chi phối của nhiều kích thích tố: growth hormone, glucose corticoids, prostaglandin, corticotropin, insulin, thyoroxin, cũng như thần kinh qua trung gian Epinephine.

III. TÁC DỤNG CỦA CHONDROITIN

1. Là thành phần chính của nền ngoại bào, đảm bảo cấu trúc, duy trì tính toàn vẹn cấu trúc của các mô (thành phần quan trọng của mô liên kết).
2. Là thành phần quan trọng tạo nên proteoglycan, Chondroitin sulfate là thành phần chính của sụn, tạo ra chức năng chịu nén của sụn. Mất chondroitin sulfat từ sụn là nguyên nhân chính dẫn tới viêm xương khớp.
+ Chondroitin có trong sụn khớp đảm bảo cho sụn mềm dẻo, đảm bảo khớp xương noạt động và chịu được các trọng lực và sức ép. dễ ho
3. Chondroitin có tác dụng chống thoái hóa khớp và dịch khớp, duy trì chức năng hoạt động của khớp.
4. Chondroitin có tác dụng chống viêm khớp, giảm đau khớp, cải thiện chức năngng khớp và làm chậm quá trình tiến triển viêm xương khớp. Cơ chế tác dụng:Chondroitin làmkích thích men tổng hợp acid hyaluronic; làm tắng hấp thu Collagen; ức chế các Enzyme phân hủy sụn và giúp sụn giữ nước; ức chế sự thoái hóa của các Enzyme; Elastase, Hyaluronidase. Do đó ức chế quá trình thoái hóa khớp và dịch khớp, bảo vệ được chức năng của khớp.

5. Các tác dụng thường được sử dụng
(1) Các dạng viêm khớp
(2)Chấn thương thể thao: gân, dây chẳng, sụn.
(3)Viêm mô tế bào, phân hủy Chollagen.
(4) Rối loạn, thoái hóa Chollagen.
(5) Bệnh Goude
(6) Thoái hóa cột sống.
6. Bệnh về mắt: giảm thị lực, khô mắt, nhức mỏi mắt, quáng gà, thoái hóa võng mạc (dobiến chứng đái tháo đường), hỗ trợ trong phẫu thuật mắt (điều trị mô cườm, thục thủy tỉnh thể…) dùng làm dung dịch bảo quản giác mạc dùng trong ghép giác mạc.

Lưu ý: Thông tin trong bài viết này chỉ mang tính tham khảo. Để nhận được lời khuyên chính xác và phù hợp nhất với tình trạng của mình, bạn vui lòng liên hệ trực tiếp với bác sĩ, dược sĩ hoặc chuyên gia y tế.

{Nguồn: Chương 10 sách VAFF THỰC PHẨM CHỨC NĂNG – Chủ biên: Phó giao sư, tiến sĩ y học Trần Đáng}